THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ, QUÁN NGỮ VÀ ĐIỂN CỐ TRONG CÂU ĐỐI NÔM CỦA NGUYỄN KHUYẾN

Thứ sáu - 07/12/2018 05:16
Lê Thị Hương, TS Nguyễn Văn Thạo
1. Đặt vấn đề
Phép đối nói riêng và câu đối nói chung là một thể loại văn học khá đặc sắc của người Việt, bởi vì mỗi câu đối thường có hai vế, một vế “ra” và một vế “đối” theo những nguyên tắc đối chặt chẽ, nghiêm ngặt. Ngôn ngữ sử dụng trong câu đối hàm súc, cô đọng và có tính gợi hình cao. Thông thường câu đối được một người đưa ra “vế ra” và một người đối lại bằng “vế đối”, tuy nhiên cũng có câu đối do một người làm. Điển hình nhất trong các tác giả đó là Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến, theo thống kê của chúng tôi trong [2;4;6;9;11], Nguyễn Khuyến có 50 câu đối nôm được làm trong các dịp khác nhau như: mừng thi đỗ, mừng nhà mới, viếng người chết, chúc tết… không chỉ là một người giỏi làm câu đối mà Nguyễn Khuyến còn đưa vào câu đối nhiều đơn vị ngôn ngữ đối nhau như: thành ngữ đối thành ngữ, tục ngữ đối tục ngữ, quán ngữ đối quán ngữ và cả các điển cố, điển tích đối nhau. Tất cả những đơn vị ngôn ngữ đó được chúng tôi thống kê, trình bày và lí giải trong bài viết này. Trước khi đưa ra kết quả nghiên cứu của mình, chúng tôi trình bày về phép đối và câu đối để làm kim chỉ nam trong việc xác định cách đối của Nguyễn Khuyến về các đơn vị ngôn ngữ là thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ và điển cố.
2.  Phép đối và câu đối
2.1. Phép đối
Phép đối là những quy định nghiêm ngặt của nghệ thuật dùng từ ngữ, là cơ sở để làm câu đối và thơ Đường luật. Đối ở đây là đối giữa các đơn vị tương đương trong ngôn ngữ với nhau: về mặt ngữ âm có đối thanh – bằng trắc đối nhau, đối về cấu trúc nhịp điệu; về từ có: từ loại phải cùng loại đối nhau như danh từ đối danh từ, động từ đối động từ, hư từ đối hư từ, đại từ đối đại từ…, về mặt cấu tạo từ có từ láy đối từ láy, từ đơn đối từ đơn, từ ghép đối từ ghép và từ ngẫu hợp đối từ ngẫu hợp; về cụm từ có: cụm danh từ đối cụm danh từ, cụm động từ đối cụm động từ…; quán ngữ, thành ngữ, tục ngữ, điển cố đối nhau; các câu cùng kiểu đối nhau – câu đơn đối câu đơn, câu đơn có thành phần phụ đối nhau, câu ghép đối câu ghép…

Trong các sách dạy về phép đối xưa, chép một số phép đối như: chính đối; đích danh đối; đồng loại đối; di loại đối; liên châu đối; song thanh đối; điệp vận đối; song nghĩ đối; liên cẩm đối; hồi văn đối. Tuy nhiên, đây chỉ là quy cách để đối cho chỉnh, cho giòn, chọi nhau chan chát còn làm được câu đối hay phải là cây bút sắc sảo, uyên bác, điêu luyện [9].
Phép đối là nghệ thuật khá nghiêm ngặt, trong đó có hai vế, một vế ra và một vế đối. Phép đối chỉnh phải là: Từ đối từ (ý nghĩa, từ loại, chức năng, đồng âm, đồng nghĩa.v..v..); thanh đối thanh (bằng đối trắc và trắc đối bằng); sắc thái tu từ đối nhau (vui, buồn, nghiêm trang, kính trọng.v.v…).
Phép đối có trong từ như từ ghép đẳng lập, trong văn học thể hiện ở các thể loại như: thành ngữ; tục ngữ; thơ Đường luật (trong thơ Đường luật hai câu đề và hai câu cuối không có phép đối, còn câu thực (câu 3 và câu 4) đối nhau và hai câu luận cũng đối nhau (câu 5 và câu 6), phép đối cũng tồn tại trong văn biền ngẫu.
 
2.2. Câu đối
Câu đối là một thể văn đặc biệt có quy mô nhỏ, mỗi đơn vị tác phẩm (được gọi là câu) gồm hai vế (thực chất là hai câu) đối xứng với nhau về từ loại, âm thanh và ý nghĩa, dùng để biểu lộ tư tưởng, tình cảm, thái độ trước một con người, một sự việc hoặc một cảnh vật, một đối tượng nào đó mà chủ đề (tác giả) quan tâm chú ý. Câu đối dùng để đọc, hoặc dán, khắc (trang trí ở nơi trang trọng) để tỏ chí, đối đáp, chúc mừng, ghi công, viếng người chết hoặc đùa vui, cười nhạo [12]…
Những phương diện trên vừa là ngữ cảnh vừa là mục đích của câu đối, đặc trưng của câu đối là ở sự mới mẻ, sâu sắc về nội dung và hoàn thiện, độc đáo về hình thức, ngôn ngữ có tính khái quát cao và súc tích tạo nên sức mạnh của câu đối.
Câu đối Việt Nam được chia thành các loại sau:
 Dựa vào ngôn ngữ sử dụng, có các loại: câu đối chữ Hán; câu đối chữ Nôm; câu đối xen chữ Hán và chữ Nôm; câu đối chữ Quốc ngữ.
Dựa vào hình thức tổ chức ngôn ngữ, câu đối được chia làm ba loại: tiểu đối (mỗi vế có bốn chữ trở xuống); thi đối (đối thơ) mỗi vế có trên bốn chữ, nếu là năm chữ hoặc bảy chữ thì câu đối giống hai câu thực hoặc hai câu luận của thơ Đường luật); phú đối ((đối phú) đặt câu theo thể Đường phú, có các phép đối sau (mỗi vế có năm chữ trở lên, chín chữ trở xuống đặt liền, gọi là phép Song quan (hai cửa), mỗi vế có hai câu dài ngắn cách ra, gọi là phép Cách cú (cách câu)), mỗi vế có ba đoạn trở lên, đoạn giữa ngắn xen vào giữa gọi là phép Hạc tất (gối hạc)).
Dựa vào cách làm, chia thành ba loại: câu đối sách, là những câu lấy chữ sẵn ở trong sách hoặc ở tục ngữ, ca dao (lấy nghĩa hoặc chữ trong sách mà đối); câu đối tức cảnh (thấy cảnh gì thì làm câu đối về cảnh ấy); câu đối chiết tự (“bẻ chữ” ra mà đối, chữ ở đây là chữ Hán hoặc chữ Nôm bao gồm cả hình nét và nội dung ý nghĩa của chữ) là những câu do sự tách chữ Hán hoặc chữ Nôm ra từng nét hoặc từng phần mà đặt thành câu [16].
Dựa vào mặt dụng học, câu đối được chia thành: câu đối có gắn với ngữ cảnh và câu đối không gắn với ngữ cảnh.

Ngoài ra, dựa vào những đặc điểm riêng mà câu đối Việt Nam còn được chia nhỏ ra như: câu đối thách, câu đối trào phúng, câu đối đề tặng, câu đối tự thuật, câu đối thờ, dựa vào số lượng tiếng trong mỗi vế mà câu đối được chia ra các loại từ ba đến chín thậm chí đến tám mươi tiếng.v.v…Nhìn chung, cách chia tách câu đối và xếp loại là rất đa dạng, có khái quát cao và cũng có thể rất chi tiết ở các tác giả khác nhau.

Như vậy, chơi chữ bằng câu đối là loại khó và ngày nay chỉ còn dùng trong câu đối Tết, câu đối mừng thọ,… Tuy nhiên, người am hiểu câu đối mới thấy hết cái hay, cái đẹp trong thơ phú ngày trước.
 
3. Kết quả nghiên cứu: thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ và điển cố trong câu đối nôm của Nguyễn Khuyến
3.1. Thành ngữ đối thành ngữ
Thành ngữ là những cụm từ cố định dùng để diễn đạt một khái niệm. Trong câu đối nôm của Nguyễn Khuyến, ông đã sử dụng một số lượng thành ngữ đáng kể nhằm đưa đến cho người lĩnh hội một cảm giác rất gần gũi và dễ dàng nắm bắt được ý nghĩa cũng như ý tứ cô đọng và sâu xa của câu đối.
Khi dùng thành ngữ thường có hai cách, dùng nguyên dạng và dùng có biến đổi ít nhiều. Trong câu đối của Nguyễn Khuyến có hai cách dùng thành ngữ này.
  • Dùng nguyên dạng như ở hai ví dụ sau:
  1. TỰ VỊNH
Hội công danh ngoại năm mươi tuổi, dù che ngựa cưỡi, ăn trắng mặc trơn, như thế là vinh, đem thân về chốn điền viên, dở dở hay hay, đã có non xanh cùng nước biếc;
Nhờ trời đất và mươi năm nữa, đầu bạc răng long, mắt lòa chân chậm, lấy gì làm thú, ngoảnh mặt xem cơ tạo hóa, lên lên xuống xuống, bao giờ bể đục nổi cồn dâu.
  1. KHÓC CON
Bảng vàng bia đá nghìn thu, tiếc cho người ấy!
Tóc bạc da mồi trăm tuổi, thiệt lắm con ơi!
  • Dùng có biến đổi như các ví dụ sau.
  1. VIẾNG CHỒNG LÀ NGƯỜI TÀU
Trước cũng tưởng Tấn Tần một nhà, vậy phận bạc phải nhờ đất khách;
Nào có biết Bắc Nam đôi ngả, đem gánh vàng đi đổ sông Ngô.
  1. LÀM CHO CON VIẾNG MẸ, CHÁU VIẾNG BÀ
Lũ cháu viếng đưa bà, chín chữ cù lao ơn tựa bể;
Đàn con than khóc mẹ, ba năm nhũ bộ đức đầy non.
  1. DÁN NHÀ HỌC
Sự học chẳng phải chơi, sáng cặp tối rèn, mổ bụng con nhét chữ;
Nuôi thầy đâu có bỡn, năm hết tết đến, bổ đầu bố lấy tiền.

Trong câu đối (3), tác giả tách câu thành ngữ phận bạc như vôi ra để lấy phận bạc đưa vào kết hợp với đất khách được tách ra từ thành ngữ đất khách quê người. Với sự phối hợp này ý nghĩa của vậy phận bạc phải nhờ đất khách bao hàm cả ý nghĩa của phận bạc như vôiđất khách quê người. Nói lên người chồng này có số phận long đong, vất vả mưu sinh và chết tại đất khách quê người. Vế dưới tác giả đã tách và lấy gánh vàng đi đổ sông Ngô trong câu tục ngữ gánh vàng đi đổ sông Ngô, đêm nằm tơ tưởng đi mò sông Thương để đối với vế trên một cách rất tinh tế. Cũng ở (1), ngoài các thành ngữ được dùng nguyên dạng như đã trình bày, còn có thành ngữ non xanh nước biếc được thêm từ nối cùng chen vào giữa thành non xanh cùng nước biếc, để đối với điển cố bể dâu đã được chen thêm các từ ngữ vào giữa để trở thành bể đục nổi cồn dâu.

Trong số câu đối được khảo sát, chúng tôi thấy có 4 cặp thành ngữ đối chỉnh - thành ngữ đối thành thành ngữ. Bên cạnh đó, có 5 thành ngữ đối không chỉnh, nhưng các từ ngữ của vế tương ứng có khi là tục ngữ như ở (3) vậy phận bạc phải nhờ đất Khách/ đem gánh vàng đi đổ sông Ngô, hoặc là điển cố như ở (1) non xanh cùng nước biếc/ bể đục nổi cồn dâu, hoặc các từ ngữ có tính thành ngữ cao như ở Khóc vợ (7) hay lam hay làm/vất vơ vất vưởng, trong Làm cho con viếng mẹ, cháu viếng bà (4) chín chữ cù lao/ba năm nhũ bộ, (5) sáng cặp tối rèn/năm hết tết đến, cũng có thể coi như thành ngữ.
 
3.2. Tục ngữ đối tục ngữ
          Tục ngữ là những câu hoàn chỉnh, có ý nghĩa trọn vẹn, nói lên hoặc một nhận xét về tâm lý, hoặc một lời phê phán, khen hay chê, hoặc một câu khuyên nhủ, hoặc một kinh nghiệm về nhận thức tự nhiên hay xã hội [14]…
          Cũng như thành ngữ, tục ngữ có hai cách dùng, dùng nguyên dạng và dùng biến đổi ít nhiều. Trong câu đối của Nguyễn Khuyến cũng có cả hai cách dùng tục ngữ này.
  • Dùng nguyên dạng
  1. GỬI NGƯỜI QUEN
          Có hay chi cõng rắn cắn gà nhà, phong lưu chú Bát, phú quý dì Tư, mây nổi đã từng qua trước mắt;
          Thôi đừng có rước voi giày mả tổ, sự nghiệp bà Bông, thơ từ ông Húng, gió bay đành lẽ gác ngoài tai.
  1. KHÓC VỢ
          Nhà chỉn cũng nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng, tất cả chân đăm đá chân chiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc;
          Bà đi đâu vội mấy, để cho lão vất vơ vất vưởng, búi tóc củ hành, buông quần lá tọa, gật gù tay đũa chạm tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm.
  • Dùng có thay đổi ít nhiều
  1. BÀ GIÀ LẤY CHỒNG
Dần dà bóng đã chiêng vàng xế;
Nhí nhảnh tay còn trống bỏi rung.
          Bà già lấy chồng (8) tác giả đã tách để lấy trống bỏi từ câu tục ngữ già chơi trống bỏi để đặt tạo ra tay còn trống bỏi rung. Như đã đượ phâm tích ở (3), đó là tác giả đã tách và lấy gánh vàng đi đổ sông Ngô trong câu tục ngữ gánh vàng đi đổ sông Ngô, đêm nằm tơ tưởng đi mò sông Thương để đối với vế trên một cách rất tinh tế.
  1. VIẾNG BỐ VỢ
Chữ nghĩa có gì, cửa sấm dám đâu mang trống lại;
Rể con không nhẽ, nước người nên phải vác chiêng đi.
          Ở câu đối này, tác giả đã thay đổi các câu tục ngữ đánh trống qua cửa nhà sấmmang chiêng đi đấm nước người tương ứng thành cửa sấm dám đâu mang trống lạinước người nên phải vác chiêng đi.
          Về tục ngữ, chúng tôi chỉ thấy có 2 cặp tục ngữ đối nhau chỉnh ở (6 và 7). Bên cạnh đó, có một câu tục ngữ được thay đổi (rút ngắn một vế) để đối với hai thành ngữ đã đượ thay đổi (rút ngắn) ở (3), một câu đối có hai tục ngữ được biến đổi đối nhau ở (9), và một tục ngữ được biến đổi ở (8). Ngoài ra, không có thêm bất cứ ngữ liệu nào là tục ngữ.
 
3.3. Quán ngữ đối quán ngữ
Quán ngữ là những cụm từ được dùng lặp đi lặp lại trong các loại diễn từ (discourse) thuộc các phong cách khác nhau. Chức năng của chúng ta là để đưa đẩy, rào đón, để nhấn mạnh hoặc để liên kết trong diễn từ. Tính thành ngữ và tính ổn định cấu trúc của quán ngữ không được như thành ngữ. Dạng vẻ của cụm từ tự do còn in đậm trong các cụm từ cố định thuộc loại này. Chỉ có điều, do nội dung biểu thị của chúng được người ta thường xuyên nhắc đến cho nên hình thức và cấu trúc của chúng cũng tự nhiên ổn định dần và người ta quen dùng như một đơn vị có sẵn [3] như (10) Lạ lùng thay/May mắn nhỉ, (11) cùng kiệt đất/tít mù giời, (12) Hay thật là hay/Thôi thế thì thôi.
  1.  LÀM CHO CON NUÔI TƯ HỒNG MỪNG TƯ HỒNG
Lạ lùng thay! Không ngoan chẳng lọ thờ chồng, ba nghìn đồng, sắc tứ cung nhân, người được như me là ít có!
May mắn nhỉ! Danh giá để dành cho cụ, bảy mươi tuổi, hàm phong Thị độc, ai rằng sinh gái cũng như không.
  1.  TỰ THUẬT
Khi làm thằng nhỏ, khi làm thằng bạch đinh, khốn khổ mấy thu cùng kiệt đất.
Lúc đỗ ông cử, lúc đỗ ông hoàng giáp, vinh hoa hai chữ tít mù giời
  1.  TẶNG NGƯỜI HỌC TRÒ CŨ ĐI LÀM CHO TÂY
Hay thật là hay đáo để! Bảo một đàng quàng một nẻo;
Thôi thê thì thôi cũng được! Phi đằng nọ tắc đằng kia.
Khi khảo sát các quán ngữ, chúng tôi thấy Nguyễn Khuyến sử dụng nhiều cụm từ có giọng khẩu ngữ. Mặc dù ông đã làm quan và sống nhiều năm trong quan trường, nhưng giọng khẩu ngữ trong câu đối đã nói lên ông là người sống rất gần gũi với làng xóm láng giềng, với quần chúng nhân dân, viết cũng như nói, mộc mạc như lời nói hàng ngày của người dân ngay cả trong các thể loại câu đối, như ở Dán Tết 3 (13) ấy mới Tết/ái chà xuân, Viếng người chức dịch chết đuối (14) Vừa mới ra việc làng /Thế mà chết đầu nước…
  1.  DÁN TẾT
Tối ba mươi, nợ réo tí mùi, ấy mới Tết!
Sáng mồng một, rượu tràn quý tị, ái chà xuân!
  1.  VIẾNG NGƯỜI CHỨC DỊCH CHẾT ĐUỐI
Vừa mới ra việc làng, mặc áo địa, cầm quạt long, vênh váo coi chừng lên mặt lắm;
Thế mà chết đầu nước, lấp ván thiên, vùi đất thịt, khôn ngoan thời cũng đứt đuôi rồi.
  1.  MỪNG ÔNG LÊN LÃO BẢY MƯƠI
Tính ông hay, hay tửu hay tăm, hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa, dù đã bảy mươi còn khỏe mạnh;
Nhà ông có, có bầu có bạn, có ván cơm sôi, có nồi cơm nếp, mở ra một tiệc thấy linh đình.

Chúng tôi thống kê được 9 cặp quán ngữ và 36 cặp từ ngữ có giọng khẩu ngữ đối nhau. Thực ra, trong tất cả 50 câu đối, câu nào cũng có những từ ngữ ít nhiều mang giọng điệu khẩu ngữ. Do đó, để thống kê triệt để là điều rất khó. Nhưng chỉ với số lượng này thì quán ngữ và từ ngữ có giọng khẩu ngữ có số lượng lớn nhất trong nhóm các đơn vị được chúng tôi khảo sát. Đây cũng là một trong những cách dùng từ ngữ đặc sắc của Nguyễn Khuyến.
 
3.4. Điển cố đối điển cố
“Trong các tác phẩm văn học Trung Quốc cổ đại, điển cố được sử dụng rộng rãi. Trong đó, thể văn biền ngẫu dùng nhiều điển cố nhất. Ngoài ra, những tác phẩm thuộc thể loại từ phú, thi ca, từ, khúc, tản văn và một số bài văn tự sự cũng hoặc nhiều hoặc ít sử dụng điển cố. Điển cố lấy việc cũ, người xưa, cổ ngữ làm phương tiện, dùng để ví von, nhằm nói rõ sự vật, trạng huống của những điều tác giả viết. Trong đó, có nhiều điển cố - về thực chất - dùng để so sánh” [15].

“Tác giả thời xưa, ngay cả khi viết bằng chữ Nôm. Tức là sử dụng ngôn ngữ  dân tộc, cũng đưa điển cố Hán học vào tác phẩm. Nói chung, việc sử dụng điển cố thường góp phần nâng cao khả năng biểu hiện và tính chất hàm súc của ngôn ngữ văn học cũng như của hình tượng văn học” [13].

Như vậy, có thể nói điển cố chính là một trong những mã hóa nghệ thuật quan trọng trong việc lĩnh hội tác phẩm. Dùng điển cố có tác dụng ví von, dẫn dắt tình ý, sự việc, thông qua sự cố, ngụ ngôn để trình bày ý tưởng, sự việc, tăng cường tính hình tượng của tác phẩm. Đa số điển cố do số ít từ ngữ tổ hợp thành, hoàn toàn không phải là trình bày lại toàn bộ câu chuyện về ngưòi xưa, việc cũ. Do đó, càng tăng thêm tính phong phú, hàm súc của tác phẩm và sự tinh tế của ngôn ngữ như ở (16) càn khôn/tạo hóa; (17) tạo hóa/càn khôn và (18) chín suối/đường mây dưới đây.
  1.  DÁN TẾT 1
     Tối ba mươi, khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo ma vương đưa quỉ tới;
     Sáng mồng một, lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ đón xuân về.
  1.  ANH HÀNG GÀ KHÓC VỢ
     Lồng tạo hóa đáy sụt rồi, nháo nhác con tìm mẹ
     Gánh càn khôn ai xẻ nửa, lục cục trống nuôi con.
  1.  VIẾNG BÀ THÔNG GIA
          Ối thương ôi! Hơn một ngày chẳng ở, kém một ngày chẳng đi, bà năm mươi tám, mà bà nhà tôi sáu mươi tư, xuân thu tuổi đã cao rồi, lọ là bon chen bảy tám chín mười mươi, thôi đừng cầu phật cầu trời, chín suối không nên ân hận nữa!
          Ấy quái nhỉ! Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một tật, bà tháng năm này, mà bà nhà tôi tháng tư trước, ngày tháng cũng không cách mấy, nào có lâu la một năm năm bảy tháng, ví chẳng dâu gia dâu giáo, đường mây sao khéo rủ nhau!.
          Ngoài ra, còn có điển cố không đối điển cố (điển cố cũng có hai cách dùng là nguyên dạng và biến đổi), điển cố ở ví dụ (1) đã được thay đổi, từ ngữ được đối với điển cố là thành ngữ như đã trình bày ở ví dụ (1) bên trên non xanh cùng nước biếc/ bể đục nổi cồn dâu, hoặc từ ngữ mang nhiều dấu ấn như điển cố, ví như ở Anh thò lò viếng anh quay đất (19) đán tịch/thần hôn, ở (20) hồng trần/thú uyển và ở (21) cành biếc/suối vàng, cụ thể dưới đây.
  1.  ANH THÒ LÒ VIẾNG ANH QUAY ĐẤT
     Thợ trời xoay máy âm dương, đán tịch bỗng nên cơn sấp ngửa!
     Nắm đất lì vừng kim cổ, thần hôn thôi xóa chuyện ăn thua!
  1.  ĐỀ TÂN ẤP HOÀNG TƯỚNG CÔNG
Chen vai để đệ một làng quan, nào dù, nào ngựa, nào xe, nào bàn cờ cuộc rượu, nào mảnh hát cung đàn, thú tự nhiên đặt sẵn gió trăng này, dẫu tử mạch hồng trần nhưng chẳng tục!
Mở mắt giang sơn trong đất nước, có quán, có cầu, có chợ, có chú Khách ông Xiêm, có kẻ thầy người thợ, kho vô tận của chung trời đất cả, lọ hoa viên thú uyển mới là xuân!
  1.  VỢ THỢ NHUỘM KHÓC CHỒNG
Cành biếc thiếp trông lên, khi vận tía, lúc cơn đen, điều dại điều khôn nhờ bố đỏ;
Suối vàng chàng thác xuống, vợ má hồng, con răng trắng, tím gan tím ruột với ông xanh.

Tất cả 50 câu đối chỉ có 2 cặp điển cố ở 3 câu đối là đối chỉnh - điển cố đối điển cố, ở Dán Tết 1 (16) càn khôn/ tạo hóa; Anh hàng gà khóc vợ (17) tạo hóa/ càn khôn; Viếng bà thông gia (18) chín suối/ đường mây. Và 5 điển cố không đối chỉnh ở Viếng chồng là người Tàu (3) Tấn Tần/ Bắc Nam; Vợ thợ nhuộm khóc chồng (21) cành biếc/ suối vàng; Đề tân ấp Hoàng tướng công (20) hồng trần/ thú uyển; Anh thò lò viếng anh quay đất (19) đán tịch/ thần hôn và cuối cùng là ở (1) điển cố đã biến đổi đối thành ngữ đã biến đổi.

Trên đây là toàn bộ cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ và điển cố trong câu đối nôm của Nguyễn Khuyến, để có cái nhìn khái quát hơn, xin xem bảnh thống kê sau;  
Stt Các đơn vị ngôn ngữ Số lượng Tỉ lệ
(%)
Chỉnh Chưa chỉnh Tổng
1 Thành ngữ 4 5 9 13.43
2 Tục ngữ 2 3 5 7.46
3 Quán ngữ 45 0 45 67.16
4 Điển cố 3 5 8 11.94
                 Cộng 54 13 67 100
 
Qua số liệu thống kê trong bảng trên cho thấy, Nguyễn Khuyến đã làm 50 câu đối nôm. Trong khi đó, có đến 67 đơn vị ngôn ngữ là thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ, điển cố được sử dụng. Như vậy, tần số sử dụng các đơn vị này khá cao trong câu đối nôm của Ông, điều này chứng tỏ Nguyễn Khuyến đã vận dụng một cách triệt để các đơn vị ngôn ngữ này nhằm làm cho ngữ nghĩa của câu đối được hàm súc, bóng bẩy. Trong số các đơn vị ngôn ngữ này thì quán ngữ là đơn vị được sử dụng nhiều hơn cả, chiếm đến trên 67%. Điều này cũng thể hiện tính cách của Nguyễn Khuyến đó là dù ông là người đỗ đạt cao và đã ra làm quan nhưng ông vẫn giữ được cách nói mộc mạc, gắn bó với đời sống thủa nhỏ của mình. Cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ và điển cố làm cho câu đối của ông và cả cá nhân ông rất gần gũi với đời sống của người bình dân. Do đó, ông đã được rất nhiều tầng lớp nhân dân yêu quý và kính trọng.

4. Kết luận
Bài viết đã thống kê các thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ và điển cố, từ đó so sánh tỉ lệ sử dụng giữa các đơn vị ngôn ngữ này với nhau nhằm đưa ra được bức tranh khá toàn diện về cách sử dụng các đơn vị ngôn ngữ này trong câu đối nôm của Nguyễn Khuyến. Bài viết đã đưa ra một số nhận định về tính cách, nhân cách và lối sống gần gũi gũi, mộc mạc của ông đối với đồng bào mình. Qua nghiên cứu câu đối nôm của Nguyễn Khuyến, có thể thấy Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến đúng là "thánh đối" mà khó ai có thể sánh bằng.
Tài liệu tham khảo
     A. Sách và bài viết
  1. Đỗ Hữu Châu (2009), Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt, Nxb, ĐHQG-HN.
  2. Phong Châu (2008), Câu đối Việt Nam, Nxb Văn học.
  3. Mai Ngäc Chừ – Vũ Đức Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến (2006), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb, Giáo dục.
  4. Nguyễn Bích Hằng, (sưu tầm, biên soạn) (2010), Câu đối Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
  5. Lê Trung Hoa – Hồ Lê (2002), Sử dụng từ ngữ trong tiếng Việt (Thú chơi chữ), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
  6.  Nguyễn Văn Huyền sưu tầm, biên dịch, giới thiệu (1984), Nguyễn Khuyến tác phẩm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
  7. Đinh Trọng Lạc (chủ biên) – Nguyễn Thái Hòa (1993), Phong cách học Tiếng Việt, Nxb Giáo dục.
  8. Phan Ngọc (2000), (Câu đối, nội dung của nó; Cấu trúc ngôn ngữ và cảm giác thẩm mỹ), Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học, Nxb Trẻ, HCM.
  9. Trần Lê Sáng (chủ biên) 2006), 5000 Hoàng phi câu đối Hán Nôm, Nxb Văn học thông tin, Hà Nội.
  10. Trần Thị Ngọc Tuyết (1997), Mấy nhận xét về phép đối và điệp trong câu đối Việt Nam, NN số 2.
  11. Vũ Thanh (tuyển chọn và giới thiệu) (2003), Nguyễn Khuyến về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục.
B. Từ điển
  1.  Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2006), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục
  2.  Đinh Gia Khánh (Chủ biên) (2008), Điển cố văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
  3. Nguyễn Lân (2010), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn học, hà Nội.
  4. Lưu Lực Sinh (2002), Từ điển Điển cố Trung Hoa, Nxb Văn hóa thông tin.
  5. https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A2u_%C4%91%E1%BB%91i
Bài đăng trong Kỉ yếu hội nghị khoa học - Đại học Sư phạm Hà Nội 2 “Tri thức trẻ với cách mạng công nghiệp 4.0”, năm 2018, Nxb, LĐXH

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

THỐNG KÊ TRUY CẬP
  • Đang truy cập46
  • Thành viên online1
  • Máy chủ tìm kiếm3
  • Khách viếng thăm42
  • Hôm nay7,470
  • Tháng hiện tại112,991
  • Tổng lượt truy cập6,114,043
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây