ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA NHẬT KÍ VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT THỂ LOẠI VĂN HỌC

Chủ nhật - 23/09/2018 22:09
ThS. Hoàng Thị Duyên
1. MỞ ĐẦU
Trong tiến trình văn học, nhật kí là thể loại còn khá kín tiếng và thưa thớt cả về mặt xuất bản tác phẩm cũng như sự nghiên cứu, tổng kết về mặt lí luận. Thực trạng này có lẽ xuất phát từ chính đặc thù của thể loại (nhật kí là thể loại ghi chép những nội dung thông tin mang tính cá nhân, ít công bố). Tuy nhiên, thể loại nhật kí với đặc tính chân thực cao, nó có khả năng lay động lớn, có sức lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội và tác động trực tiếp đến cảm xúc con người. Đặc biệt, từ khi xuất bản hai cuốn nhật kí của Đặng Thùy Trâm và Nguyễn Văn Thạc thì “chất lửa” từ đây đã lan tỏa mạnh mẽ và có khả năng “thiêu đốt” trái tim hàng triệu người trong và ngoài nước. Gần đây nhật kí Đặng Thùy Trâm còn được thu thành đĩa để dễ dàng đến với thính giả yêu văn học. Cuốn nhật kí này cũng được dịch ra tiếng nước ngoài (tiếng Nga) và được giới thiệu đã thu hút đông đảo khán giả ngoài nước quan tâm.

Với giá trị lớn về mặt tư liệu, sức mạnh về giáo dục và những đóng góp về mặt nghệ thuật, nhật kí đã và đang trở thành một thể loại đầy hứa hẹn, có đóng góp đáng kể cho văn đàn Việt Nam. Tuy thế, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu về thể loại này có tính chất bài bản và qui mô. Vì vậy, việc hệ thống và tổng kết những vấn đề lý luận về thể loại nhật kí là một việc làm cần thiết. Đó chính là lý do thôi thúc chúng tôi tìm hiểu về vấn đề này.

2. NỘI DUNG
2.1.Quan niệm về nhật kí văn học
Nói đến nhật kí (Diary) là nói đến một sản phẩm mang giá trị cá nhân, những bí mật riêng tư hầu như người ta không mấy để ý và quan tâm sâu sắc. Nhưng trên thực tế, những năm gần đây, vì những lí do khác nhau nên thể loại nhật kí đặc biệt được bạn đọc cũng như dư luận đón nhận. Các nhà nghiên cứu đã đặt nhật kí với tư cách là một thể loại văn học để khảo sát về mặt lý luận.

Trong Từ điển văn học (bộ mới), Lại Nguyên Ân cho rằng: Nhật kí là “Loại văn ghi chép sinh hoạt thường ngày. Trong văn học, nhật kí là hình thức trần thuật ở ngôi thứ nhất số ít, dưới dạng những ghi chép có đánh số ngày tháng…bao giờ cũng chỉ ghi lại những gì đã xảy ra, những gì đã nếm trải, thể nghiệm, nó ít hồi cố, được viết ra cho bản thân người ghi chứ không tính đến việc công chúng tiếp nhận”.

Bên cạnh đó, thể loại nhật kí còn được nhắc đến ở một số bài viết và các công trình nghiên cứu khác. Trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Phan Đệ Cự nhắc đến thể loại nhật kí với tư cách như một tiểu loại của loại hình kí: “Nhật kí ghi chép những sự việc và cảm nghĩ về bản thân, về cuộc đời diễn biến theo ngày tháng. Nhật kí thiên về tâm tình hơn là sự kiện. Một tập nhật kí có ý nghĩa văn học khi thể hiện được một thế giới tâm hồn, qua sự việc và tâm trạng cá nhân toát lên những vấn đề xã hội rộng lớn”.

Các quan niệm trên của các nhà nghiên cứu có những điểm tương đồng và khác biệt nhưng có thể thấy họ đều chú ý đến hạt nhân cốt lõi của nhật kí đó là sự thật, khả năng ghi chép theo ngày tháng…  Có lẽ đây cũng là điểm hấp dẫn của thể loại này.
Thông thường, mỗi cá nhân khi viết nhật kí đều xuất phát từ chính nhu cầu được bộc bạch, ghi lại cảm xúc và đối thoại với bản thân chứ không nhằm mục đích công bố rộng rãi. Nhưng từ trong cách ghi chép, cách chọn lọc hình ảnh đã bao hàm được yếu tố thẩm mĩ. Chính điều đó kết hợp với cái nhìn chân thực nhưng mang tính mĩ học về các sự việc hàng ngày đã khiến nhiều cuốn nhật kí mang được phẩm chất nghệ thuật và thực sự trở thành những tác phẩm văn học có giá trị.
Hiện nay, nhật kí đã nhận được sự quan tâm của khá nhiều độc giả và các nhà nghiên cứu phê bình văn học. Vì lẽ ấy, nên việc nghiên cứu để làm phong phú thêm những đặc trưng của thể loại này là điều vô cùng cần thiết.

2.2 Đặc trưng cơ bản của nhật kí văn học
2.2.1 Sự thật  là vấn đề cốt lõi của nhật kí
Trong các thể loại văn học, yếu tố hư cấu (fiction) được sử dụng phổ biến nhưng với nhật kí, yếu tố này rất ít được dùng đến. Thực ra, văn học nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc sống nhưng không phải sao chép thuần túy mà phải sáng tạo dưới lý tưởng thẩm mĩ của nhà văn. Nói hơi cực đoan như Fêđin thì “ Tương quan giữa hư cấu và sự thực trong tác phẩm là 98/2”.

Không giống với các thể loại văn học khác, ở loại hình ký như hồi ký, tự truyện, đặc biệt là nhật ký,  yếu tố hư cấu ít được nhắc đến mà đặc điểm nổi bật nhất lại là tính chân thật. Người viết nhật kí nhất thiết sống thực như một chứng nhân thời sự, một sự thật lịch sử có thật (the truest history), cuộc đời đã tự lên tiếng và người viết không có sự can thiệp làm biến dạng đi bản chất vốn có của sự thật.

Nói sự thật là vấn đề cốt lõi của nhật kí có nghĩa là nói đến tính chân thực của thể loại này. Trần Đình Sử đã đánh giá:"Nhật kí là thể loại ghi chép những sự việc, suy nghĩ cảm xúc hàng ngày của chính người viết (…). Giá trị quan trọng nhất của nhật kí là tính chân thực do ghi chép sự việc đang diễn ra". Điều đó cho thấy người viết nhật kí luôn trung thành với hiện thực, ghi lại một cách chân thực những diễn biến sự việc hàng ngày.
Sở dĩ nhật kí có tính chân thực là do nó được viết không nhằm công bố rộng rãi để thu hút sự chú ý mà chỉ là hình thức ghi lại của cá nhân đó đối với chính những suy ngẫm, trải nghiệm và tâm sự của chính mình. Vậy nên, người viết luôn thành thực với đúng những gì đang xảy ra xung quanh cuộc sống của cá nhân mình. Thể hiện rõ cho đặc trưng này là những cuốn nhật kí của Chu Cẩm Phong, Nhật kí Đặng Thùy Trâm, Nhật kí Nguyễn Ngọc Tấn, Nhật kí Nguyễn Huy Tưởng… có thể coi đó là những cuốn phim tư liệu quí giá về một thời đại đã đi qua nhưng còn vọng mãi trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Trong số những cuốn nhật kí kể trên, nhật kí Chu Cẩm Phong nổi bật về tính chân thực. Chu Cẩm Phong không chỉ là một nhà văn, nhà báo, mà còn là một người lính nhiều lần cầm vũ khí chiến đấu trực tiếp với kẻ thù. Cuốn Nhật kí chiến trường của anh được bắt đầu ghi từ thứ 3 ngày 11/7/1967 đến ngày cuối cùng là thứ ba ngày 27/4/1971. Trong cuốn nhật kí này, Chu Cẩm Phong đã ghi lại những điều anh tận mắt chứng kiến, những điều anh cảm nhận, suy nghĩ trong suốt quá trình đi công tác, thực hiện nhiệm vụ mà Đảng giao cho. Với nhật kí cuả Chu Cẩm Phong, chúng ta nhận thấy dấu ấn của cuộc chiến tranh khốc liệt hiện lên qua từng trang giấy. Tất cả những sự kiện, sự việc, những con người, những hình ảnh đặc trưng của từng mảnh đất đều được hiện lên sống động và lôi cuốn. Dường như anh không bỏ qua một chi tiết nào nhưng chi tiết nào cũng đầy ắp sức sống. Vì vậy, nhật kí của anh có thể coi như là một cuốn tư liệu quý giá về hiện thực cuộc sống và chiến đấu của nhân dân khu V trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ.
Cũng mang độ chân thực cao, Nhật kí Đặng Thùy Trâm đã giúp những ai chưa bao giờ sống trong khói lửa chiến tranh nhận ra nhiều sự thật mà trong cuộc sống thời bình không thể nào biết được. Đọc Nhật kí Đặng Thùy Trâm, ta có thể thấy hết được sự khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mĩ Cứu nước ; trong khoảng thời gian ấy trên mảnh đất Đức Phổ có bao nhiêu chiến sĩ hi sinh, bao nhiêu người dân vô tội phải chết oan, bao nhiêu người bị thương… dần dần trải ra như một sự thật lịch sử qua một thước phim quay chậm. Trong nhật kí này, sự hi sinh nào cũng được hiện hình qua những cái tên cụ thể : Hường, Thìn, Sơn, Dũng, Khiêm, Vinh, Thành…Có những cái chết được Thùy Trâm ghi lại khá tỉ mỉ : "Chúng mở nắp công sự, Khiêm vọt lên dùng quả lựu đạn duy nhất trong tay quăng vào lũ giặc. Bọn quỷ khát máu sợ hãi nằm rạp xuống. Khiêm chạy được một đoạn nhưng quả lựu đạn chó chết đã câm, bọn giặc chồm dậy đuổi theo Khiêm và đến băm nát người Khiêm" (Nhật kí ngày 14/8/1968).

Tính chân thực của nhật kí còn thể hiện ở chỗ người trần thuật là hình tượng trung tâm, trực tiếp chứng kiến, trải nghiệm và ghi chép lại. Nếu người kể chuyện trong tiểu thuyết, truyện ngắn hay nhân vật trữ tình trong thơ ca thường chỉ hiện diện như một yếu tố ước lệ thể hiện điểm nhìn của tác giả, tất cả các chi tiết về tiểu sử thường bị cố tình làm nhòe mờ thì trong các tác phẩm nhật kí, lai lịch, hành trạng của người kể chuyện lại thường được tô đậm, cụ thể hóa bằng những chi tiết giống với tiểu sử tác giả. Vai trò chứng kiến, ghi chép của người kể chuyện này được đặc biệt nhấn mạnh nhằm làm nổi bật tính chất đáng tin cậy của câu chuyện được kể. Các tác phẩm nhật kí bao giờ cũng hấp dẫn vì đó là câu chuyện của người trong cuộc. Nhờ vị trí là người trực tiếp tham gia, trải nghiệm, mà những ngóc ngách bí mật, bị che giấu, khuất lấp được phơi ra ánh sáng. Người kể chuyện này không chỉ miêu tả, kể chuyện, mà luôn luôn bày tỏ thái độ, cảm xúc, đánh giá của mình trước câu chuyện mình kể, khiến cho diễn ngôn về sự thực trong nhật kí bao giờ cũng có một giọng điệu, một sắc thái cảm xúc nào đó. Trong các tác phẩm nhật kí, tính chất thời sự và hình thức xác chỉ của các nhân vật, sự kiện, không gian và thời gian đã đem lại cho người đọc niềm tin về sự chân thực của câu chuyện.
Nhật kí là thể loại có khả năng ghi chép một cách cụ thể, trung thực, khách quan, tỉ mỉ diễn biến của sự việc hiện tượng xảy ra xung quanh chủ thể theo thứ tự ngày này qua ngày khác. Nó là sự tùy ý liệt kê phi chọn lọc hoặc đơn thuần chỉ là những xúc cảm cá nhân bất chợt, những trang nhật kí viết khá hồn nhiên, người viết không quan tâm đến đối tượng cũng như một mục đích nào khác mà chỉ đơn thuần muốn nói chuyện với chính mình, muốn giải tỏa những tần số cảm xúc đang rối loạn trong con người mình, chính điều đó khiến nhật kí càng đạt được nhiều giá trị đặc biệt là giá trị văn học. Tuy nhiên, ở một số dạng thức khác, người viết nhật kí ý thức được đối tượng tiếp nhận nên họ thường khá chú ý đến chủ đề, ý tưởng, họ có ý thức chọn lọc những gì tiêu biểu nhất, tài hoa nhất có ý nghĩa nhất đối với đời sống cũng như tính nhiều mặt của hiện thực của đời sống hay nói cách khác đó chính là tận dụng tính bí mật riêng tư của nhật kí để làm giả nhật kí hoặc mượn hình thức nhật kí để viết tiểu thuyết, truyện ngắn thơ như một phương tiện nhằm cách tân nghệ thuật (Tập Ngục trung nhật kí – Hồ Chí Minh; Nhật kí chìm tàu – Nguyễn Ái Quốc; Nhật kí người điên – Lỗ Tấn; Chàng ngốc (Nhật kí chàng ngốc) – Dostoievxki; Nhật kí son môi – Gào; Nhật kí công chúa – Meg;…)

2.2.2. Nhật kí là thể loại mang tính chất cá nhân riêng tư
Ở nhật kí, ta dễ dàng nhìn ra cái “Tôi” cá thể. Yếu tố tâm tình biểu cảm trong nhật ký là một trong những điều ta không thể phủ nhận hơn nữa đối tượng tiếp nhận lại là chính bản thân họ. Sức thu hút của nhật kí phụ thuộc vào cảm xúc của cái “Tôi” trước hiện thực đời sống đang xảy ra, phụ thuộc vào khuynh hướng thẩm mĩ cũng như đạo đức của người viết nhật ký. Cái “Tôi” trong nhật kí giống cái “Tôi” trong văn học ở chỗ chúng đều phải sáng tạo nghệ thuật, vừa mang tính xác thực của đối tượng miêu tả vừa đảm bảo giá trị thẩm mỹ góp phần bồi đắp hình tượng ấy phong phú đa diện. Mục đích của nhật kí là giao lưu với chính mình, là tiếng nói phân thân của người viết bởi vậy tính riêng tư là yếu tố khiến nhật kí thu hút bạn đọc. Hơn bao giờ hết, những bí mật của người khác, nhất là những góc khuất chưa được công bố của sự kiện hay nhân vật mang tầm ảnh hưởng xã hội vẫn luôn khơi gợi trí tò mò công chúng.

Nhật kí là thể loại độc thoại, tự mình nói với mình, vì thế chúng ta luôn thấy tác giả hay nhân vật của cuốn nhật kí ở ngôi thứ nhất. Nếu như trong các thể loại như: phóng sự, tùy bút, bút ký… trung tâm thông tin không phải là tác giả mà là các vấn đề xã hội thì ở nhật kí văn học, người viết luôn là trung tâm. So với các thể loại khác, vai trò của cái tôi trần thuật trong nhật kí văn học bao quát, xuyên suốt toàn bộ tác phẩm. Tác giả không ngần ngại xuất hiện trong từng chi tiết nhỏ nhất và chính sự có mặt của cái tôi ấy đã góp phần quan trọng trong việc tạo ra niềm tin của công chúng vì họ tin rằng đang được nghe kể về những sự thật mà tác giả là người đã trực tiếp chứng kiến. Tuy nhiên, có những khi lời độc thoại của tác giả hay nhân vật lại chính là một cuộc đối thoại ngầm với người khác về con người và cuộc đời nói chung, về bản thân mình nói riêng.

Cũng bởi tính chất cá nhân mà trong thể loại nhật kí từ cách xưng hô, cách viết tắt, đều được qui ước ngầm mà bản thân người viết là người hiểu rõ nhất.
Một ví dụ tiêu biểu cho tính riêng tư là cuốn nhật kí Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc. Khi viết nhật kí, Nguyễn Văn Thạc tâm sự rằng : "Mình đã đọc nhật kí của nhiều người. Mình cảm thấy rằng nếu như người viết Nhật kí là viết cho mình, cho riêng mình đọc thì cuốn nhật kí đó sẽ là chân thực nhất, sẽ bộn bề và sầm uất nhất. Người ta sẽ mạnh dạn ghi cả vào đấy những suy nghĩ tồi tệ nhất mà thực sự họ có. Nhưng nếu nhật kí mà có thể có người xem nữa thì nó sẽ khác và khác  nhiều. Họ không dám nói thật, nói đúng bản chất sự kiện xảy ra trong ngày, không dám nói hết và đúng những suy nghĩ đã nảy nở và thai nghén trong lòng họ. Mà đó chính là điều tối kị khi viết nhật kí – Nó sẽ dạy cho người viết tự lừa dối ngòi bút của mình, tự lừa dối lương tâm của mình (…) " (Nhật kí ngày 18/4/1972). Qua những lời tâm sự này của Nguyễn Văn Thạc, chúng ta thấy rằng, Nguyễn Văn Thạc viết nhật kí không nhằm mục đích công bố, không nhằm mục đích cho người khác đọc. Anh chỉ muốn viết cho riêng mình và anh luôn coi nhật kí như là một kỉ vật thiêng liêng, một "người bạn đường nghiêm khắc và tốt bụng". Do đó những trang nhật kí của anh là những trang viết hồn nhiên nhất, vô tư nhất, chân thực nhất.

Có thể nói, không ở thể loại văn học nào mà người viết có thể thoải mái bày tỏ những suy nghĩ cá nhân của mình như trong nhật kí. Ta có thể bắt gặp ở đây những trăn trở về chính sách, những băn khoăn về xã hội, thậm chí cả những bí mật chính trị… Tiêu biểu cho tính cá nhân có thể kể đến nhật kí Nguyễn Huy Tưởng. Những trang nhật ký của Nguyễn Huy Tưởng trải rộng ra, ông bộc lộ những tâm tư, cảm xúc đối với thực trạng xã hội miền Bắc lúc bấy giờ. Tất cả mọi vấn đề đều được ông tái hiện lại một cách rõ nét: những câu chuyện về cải cách ruộng đất, tình hình giá cả đắt đỏ ở miền Bắc, thuế nặng đổ hết lên đầu người dân, chính sách thay đổi xoành xoạch khiến nhân tâm con người không ổn định, cùng với đó là hàng loạt các hiện tượng tiêu cực trong xã hội xuất hiện điển hình như: xem bói, mại dâm…Thêm vào đó là tình hình kinh tế gay go, số học sinh thì bị hạn chế, người sản xuất thì cho đi học, những người đi học thì bắt về sản xuất. Con người đâm ra hèn, bới móc nhau, sống không tình nghĩa. Đất nước trong những năm 1957 lầm than, khổ cực, túng thiếu… Tất cả những suy nghĩ về xã hội, thậm chí cả những vấn đề nóng, nhạy cảm của văn hóa văn nghệ thời kì này cũng như những bí mật về chính trị cũng được thể hiện một cách chân thực nhất.
Tính chất cá nhân và cả những bí mật ít được tiết lộ trong nhật kí luôn là tâm điểm thu hút trí tò mò của bạn đọc.

2.2.3. Tính chất biên niên của thể loại nhật kí
Hình thức kết cấu của nhật kí theo thời gian tuyến tính, theo trình tự về ngày tháng năm và bao giờ khoảng thời gian ghi chép giữa các ngày tháng cũng được ghi rất rõ : Ngày…tháng…năm (bằng số). Người viết nhật kí bao giờ cũng tôn trọng trật tự biên niên của sự việc ghi chép nhật kí. Sự việc hay hiện tượng được ghi lại trong nhật kí được sắp xếp theo đúng trình tự về thời gian mà người viết lần lượt được chứng kiến hay tham gia. Theo Trần Đình Sử : "Nhật kí ghi chép sự việc, suy nghĩ, cảm xúc theo ngày tháng , có thể liên tục nhưng cũng có thể ngắt quãng". Điều đó có nghĩa là thứ tự ngày tháng có thể theo đúng thứ tự liên tục như 1,2,3,4,5….nhưng cũng có thể ngắt quãng nhưng vẫn phải theo trình tự trước sau như 1,2,..5,6,7….
Ta có thể thấy rõ điều này trong nhiều cuốn nhật kí.  Ví dụ tiêu biểu trong cuốn Nhật kí Đặng Thùy Trâm :
8.4.1968
Mổ ca ruột thừa trong điều kiện thiếu thốn. Thuốc giảm đau chỉ có vài ống Novocaine nhưng người thương binh trẻ không hề kêu la một tiếng. Anh còn cười để động viên mình (…)
10.4.1968
Vậy là hết chiều nay các anh lên đường để lại cho mọi người nỗi nhớ mênh mông giữa khu rừng vắng vẻ. Các anh đi rồi nhưng tất cả nơi đây chỉ còn ghi lại những con đường đi, những chiếc ghế ngồi chơi xinh đẹp, những câu thơ thắm thiết yêu thương (…)
12.4.1968
Rùng chiều sau một cơn mưa, những lá cây xanh trong trước ánh nắng, mỏng mảnh xanh gầy như bàn tay một cô gái cấm cung (…)
Đây là vài dòng trích dẫn ngay từ những trang đầu của Nhật kí Đặng Thùy Trâm. Ta có thể thấy rõ ở đây  ngày tháng năm được ghi chép rất rõ ràng và theo thứ tự thời gian trước sau. Tuy có ngắt quãng ( tức là chỉ có ngày 8, ngày 10, ngày 12 mà không có ngày 9, ngày 11) nhưng trật tự thời gian được sắp xếp theo đúng thứ tự thời gian trước sau.
Khi tiếp nhận một tác phẩm nhật kí, bao giờ ta cũng thấy nổi lên trên bề mặt của nó là một lớp thông tin, sự kiện, nhân vật, thời gian, không gian cụ thể, đơn nhất, có thể coi là lớp từ vựng của sự thực. Lớp thông tin sự kiện này được mã hóa thành những danh từ riêng, những con số, ngày tháng... xuất hiện với một mức độ dày đặc trong nhật kí. Bên dưới lớp thông tin sự kiện này, ta có thể dễ dàng nhận thấy một nguyên tắc tổ chức tất cả các yếu tố trên theo logic của cái thực, có thể coi là lớp ngữ pháp của sự thực. Trong tác phẩm nhật kí, bao giờ cũng có sự xuất hiện của một người trần thuật xưng tôi với tư cách là người chứng kiến, ghi chép, luận bàn, hay có thể nói, là một chủ thể nói sự thực. Những yếu tố này khiến cho trong nhật kí bao giờ cũng có một lớp nghĩa chỉ vật, một bức thông điệp về cái có thật.

Có thể nói, kết cấu của sự kiện trong các tác phẩm nhật kí thường tuân thủ trật tự tuyến tính của thời gian, làm nổi bật logic của cái thực, và vì thế, tạo nên độ tin cậy cho câu chuyện được kể.
Các sự kiện trong nhật kí thường được cụ thể hóa bằng những địa danh, ngày tháng, số liệu cụ thể. Bởi nhật kí là một thể loại ghi chép sự thực, cho nên, những thông tin về sự kiện là một phần không thể thiếu.
Cũng chính nhờ tính chất biên niên mà nhật kí được coi là một trong những thể loại văn học bám sát hiện thực đời sống một cách nhanh nhạy, kịp thời và chính xác nhất. Nó kịp thời ghi lại những gì nóng hổi xảy ra trong ngày nên giá trị sự thật đáng tin cậy hơn hẳn lối ghi chép hồi cố về kí ức trong hồi kí

3. KẾT LUẬN
Xuất phát từ những ghi chép cá nhân, nhưng những yếu tố, phẩm chất văn học đã biến một số tác phẩm nhật ký cá nhân trở thành những tác phẩm văn học với những đặc tính và giá trị độc lập. Những tác phẩm này dung hợp những đặc tính của việc ghi chép hàng ngày với yếu tố nghệ thuật như cái nhìn mĩ học về các sự kiện đời sống. Tuy nhiên, ở nó vẫn nổi bật lên những đặc trưng rất nổi như : Sự thật ; tính cá nhân ; tính biên niên... Bởi những đặc trưng ấy mà nhật kí ngày càng tạo ra sức hút, trí tò mò và khát vọng thám mã từ phía độc giả
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.
[2]. Lê Bá Hán,Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Đồng chủ biên,1999), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
[3]. Chu Cẩm Phong (2012), Nhật kí chiến tranh, Nhà  xuất bản hội nhà văn.
[4]. Trần Đình Sử (1999), Giáo trình thi pháp học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội
[5]. Nguyễn Văn Thạc (2005), Mãi mãi tuổi hai mươi, NXB Thanh niên
[6]. Đặng Thùy Trâm (2012),  Nhật kí Đặng Thùy Trâm, NXB Hội nhà văn                            
Bài đăng trên tạp chí khoa học Đại học Sư phạm Hà Nội 2 số 39 (10/2015)
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

THỐNG KÊ TRUY CẬP
  • Đang truy cập36
  • Thành viên online1
  • Máy chủ tìm kiếm20
  • Khách viếng thăm15
  • Hôm nay3,444
  • Tháng hiện tại108,903
  • Tổng lượt truy cập6,109,955
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây